Case Study, Social Media Insight |

Ngành ngân hàng Châu Á đang chuyển mình thế nào để bắt kịp với thời đại công nghệ?

(Bài dịch của McKinsey)

Phương Tây đã từng là một cái nôi sáng tạo sản sinh ra rất nhiều ý tưởng phát triển cho hệ thống ngân hàng hiện đại, từ việc lên kế hoạch phát triển, cho tới những mô hình kinh doanh và phát minh thực tiễn được áp dụng vào trong ngành. Tuy nhiên vài năm trở lại đây, cán cân trong vai trò làm đầu tàu sáng tạo đang dần nghiêng sang Châu Á. Điều này không chỉ chứng tỏ vai trò trọng yếu của một nền kinh tế đa dạng hóa như Châu Á trên thương trường, mà còn là một minh chứng cho thấy tố chất lãnh đạo dẫn dắt thị trường trong việc phát triển công nghệ và mô hình kinh doanh mới. Hiện tại, khi mà lực kéo tăng trưởng đã chậm lại, các ngân hàng một lần nữa phải đối mặt với những thách thức để thích nghi và làm mới mình. Bài viết này sẽ đưa ra một cái nhìn tổng quan về ngành ngân hàng của Châu Á hiện tại và đưa ra những cách để các ngân hàng có thể cải thiện chính mình để mở ra một kỉ nguyên tài chính số hoàn toàn mới.

Sự chuyển giao quyền lực giữa 2 phương Đông và Tây

Không lâu trước đây, các ngân hàng Châu Á ngưỡng mộ ngước nhìn sang phương Tây để học hỏi theo những sáng kiến mới để phát triển sản phẩm và doanh nghiệp. Tuy nhiên, tình thế đã đảo chiều nhanh chóng khi thị trường Châu Á vươn mình lên trở thành đầu kéo chủ lực để phát triển ngành ngân hàng thế giới. Hơn 40 trong top 100 ngân hàng lớn nhất thế giới tính theo khối tài sản đến từ Châu Á. Châu Á đã trở thành thị trường ngân hàng nội địa lớn nhất thế giới, với lãi trước thuế lên tới 700 tỷ USD, và chiếm tới 37% tổng lợi nhuận toàn cầu năm 2018 của ngành tài chính ngân hàng quốc tế. Chúng tôi ước tính rằng với lượng tăng trưởng thu nhập cùng với việc tầng lớp trung lưu sẽ chiếm 2/3 tổng số hộ gia đình ở Châu Á, tài sản cá nhân ở trong khu vực dự kiến sẽ lên tới 69 nghìn tỷ USD năm 2025, tương đương với 3/4 tổng tài sản toàn cầu.

Không những đã vượt qua phương Tây về quy mô, việc có lượng lớn người tiêu dùng sành công nghệ đã tạo ra những cơ hội cho những ngân hàng trên thực hiện những phát kiến mới và vượt lên phía trước. Những công ty tiên phong trong lĩnh vực tài chính công nghệ (fintech) như Alipay và WeChat Pay dẫn đầu thế giới về quy mô đều đến từ Châu Á. Theo báo cáo của McKinsey, thanh toán điện tử ở Trung Quốc chiếm tới 99% khối lượng giao dịch thanh toán phi tiền mặt và 45% khối lượng thanh toán toàn thế giới.

Trải dài khắp Châu Á, các ngân hàng cũng đang thúc đẩy hợp tác với các công ty khởi nghiệp fintech để thúc đẩy thanh toán số. Tại Thái Lan, Kasikornbank và Grab đã hợp tác với nhau để cho ra mắt ví điện tử GrabPay by KBank. Ngân hàng BRI (Indonesia) cũng hợp tác với Alipay để có thể mở thêm điểm POS thanh toán số dành cho các du khách Trung Quốc ghé thăm Indonesia.

Châu Á cũng là miền đất hứa dành cho ngân hàng số, với hàng loạt các doanh nghiệp đang dần chuyển giao công nghệ và tài nguyên qua nền tảng trên. Tại Trung Quốc, WeChat của Tencent mời chào sản phẩm vay qua ngân hàng WeBank; ở Hàn Quốc, Kakao Talk cho ra mắt ngân hàng số Kakao Bank năm 2017, trong khi tập đoàn Rakuten dần lấn sân sang sản phẩm và dịch vụ mở thẻ tín dụng, ngân hàng số, đầu tư và bảo hiểm.

Sự vươn lên của hệ sinh thái người dùng cũng là 1 lĩnh vực mà Châu Á đang đi tiên phong. Ví dụ, hệ sinh thái thương mại bao gồm cả dịch vụ ngân hàng và thanh toán đã được phát triển từ nền tảng thương mại B2B và B2C của Alibaba. Ping An, một trong những tập đoàn tài chính lớn nhất Trung Quốc, đã tái cấu trúc thành một công ty hệ sinh thái ‘tech + fin’, cung cấp các khoản vay và đầu tư, cũng như bảo hiểm, trên các nền tảng chăm sóc sức khỏe, nhà ở và hơn thế nữa. 

Ở những thị trường đa dạng, các ngân hàng cũng đang xây dựng nền tảng kỹ thuật số để có thể ứng dụng được những sản phẩm và dịch vụ tài chính vào các hoạt động của người tiêu dùng hàng ngày, ví dụ như ngân hàng HDFC đã mở rộng các dịch vụ cho nông dân nhỏ ở Ấn Độ; DBS Marketplace cho phép người tiêu dùng tìm kiếm ô tô, khoản vay mua ô tô, v.v. ở Singapore.

Các Ngân hàng ở Châu Á chuẩn bị cho sự hợp nhất

Sau 1 thập kỷ phát triển không ngừng, tỷ suất lợi nhuận, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và giá trên sổ sách (P/B) dần trở về mốc trung bình toàn cầu, dự báo ngành ngân hàng Châu Á chuẩn bị phải đối mặt với những khó khăn trước mắt.

Tăng trưởng của ngành ngân hàng Châu Á đã giảm từ mốc 2 con số từ những năm đầu thập niên xuống còn 5% hàng năm trong giai đoạn 2014-2018. Trong khi Châu Á chiếm 1/3 tổng lợi nhuận ngân hàng toàn cầu, con số này đã giảm một nửa từ 2010, khi các ngân hàng tại khu vực các nước phát triển dần phục hồi sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tỷ suất lợi nhuận cũng giảm dần do các ngân hàng truyền thống đối mặt với sự cạnh tranh gắt gao từ những ngân hàng số và từ chính việc cạnh tranh với nhau. Chỉ số ROE trung bình của các ngân hàng Châu Á cũng giảm từ 12.4% năm 2010 xuống còn 10.1% năm 2018. Ở các thị trường đang phát triển chi phí vốn tăng trong khi chất lượng tài sản suy giảm cũng đã khiến cho chỉ số ROE trung bình giảm từ 19.5% năm 2010 xuống còn 11.4% trong 2018, ngang bằng với mức trung bình toàn cầu. Các nhà đầu tư cũng đã thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ đối với fintech và những công ty ‘nổi loạn’ nhằm phá vỡ sự độc tôn của các công ty lớn, nhưng kỳ vọng của họ đối với các ngân hàng truyền thống của châu Á là không cao, đẩy tỷ lệ P/B cho ngân hàng châu Á giảm từ 1.4 năm 2010 xuống 0.7 vào năm 2018⁠ — kéo theo tỉ lệ trung bình thế giới xuống còn 0.9.

Không những tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận đã chậm lại, những khó khăn trước mắt đặt ra những thách thức đáng kể cho ngành ngân hàng những năm đầu của thập kỉ mới. Nếu tăng trưởng GDP tiếp tục hụt hơi ở Châu Á như dự báo, các ngân hàng sẽ càng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm những con đường tăng trưởng mới và sẽ phải đối phó với khả năng chất lượng tài sản suy giảm và gia tăng chi phí rủi ro. Ngay trong năm 2018, nợ xấu ở Châu Á đã tăng xấp xỉ 0.3%, mức nợ xấu lớn nhất kể từ 2002. GDP tăng trưởng chậm ở Trung Quốc – kết hợp với những xung đột thương mại cùng với Mỹ cùng với giá bất động sản tăng trưởng phi mã có thể đè nặng lên tài chính của các nước đối tác thương mại, vì tác động của phiên điều chỉnh thị trường có thể gây bất ổn cho các ngân hàng ở các thị trường lân cận.

Ngoài những khó khăn kể trên, những thay đổi về chính sách liên quan đến mở rộng hoạt động ngân hàng ở khu vực lân cận cũng gây ra ít nhiều ảnh hưởng cho các ngân hàng đang hoạt động tại Châu Á. Ví dụ, Ấn Độ cho phép các nhà cung cấp dịch vụ tài chính (ngoài ngân hàng) được phép truy cập vào hệ thống giao diện chuyển tiền và thanh toán quốc gia; trong khi Hong Kong và Singapore đã bổ sung giấy phép cho ngân hàng điện tử vào trong hệ thống pháp lý của mình, Úc và Singapore – cùng nhiều nước khác đã sửa đổi luật pháp của mình để có thể cho phép các ứng dụng bên thứ 3 được kết nối với ngân hàng để thu thập thông tin và thực hiện thanh toán ủy quyền. Với việc thúc đẩy phát triển hạ tầng và giảm thiểu chi phí để tối ưu trải nghiệm khách hàng, chúng tôi dự đoán trong tương lai, mở cửa mã nguồn ngân hàng để tích hợp cổng thanh toán sẽ là xu hướng của thị trường Châu Á thời gian tới.

Cuộc chiến giành giật thị phần và lợi nhuận với các fintech sẽ rất khốc liệt với các ngân hàng. Nhưng quan trọng hơn, các ngân hàng cần đảm bảo sự ổn định về lợi nhuận và tài chính. Những doanh nghiệp với nguồn vốn lớn đang là những doanh nghiệp dẫn đầu thị trường về doanh thu và lợi nhuận sẽ tìm cách để củng cố vị thế của mình trên thị trường bằng cách mua lại các công ty bé hơn để mở rộng quy mô hoạt động. Nắm bắt được tâm lý trên, chúng ta có thể thấy việc các công ty dần sáp nhập ở Châu Á là khó có thể tránh khỏi. 

Tiến hóa để hướng tới tương lai

Để có thể hướng tới tương lai, các ngân hàng sẽ phải cân bằng giữa các mục tiêu ngắn hạn – củng cố giá trị cốt lõi và tạo cơ hội tăng trưởng – song song với các mục tiêu dài hạn – như định hướng lại giá trị của ngân hàng trong thời đại số. Trước mắt, các ngân hàng cần tập trung vào cả việc lôi kéo và giữ chân khách hàng thông qua hệ sinh thái số, đòi hỏi những cách tiếp cận mới về cách xây dựng thương hiệu cùng cách quản lý các mối quan hệ cũng như những thay đổi trong mô hình kinh doanh và công nghệ. Các tổ chức tài chính đang làm ăn thua lỗ – chiếm đến ⅔ các ngân hàng ở Châu Á sẽ phải đối diện với thách thức để thay đổi làm mới doanh nghiệp hoặc dần dần sẽ tụt hậu lại về sau.

Những ngân hàng hàng đầu Châu Á đã thực hiện các bước đầu để củng cố lại giá trị cốt lõi, tập trung vào năng suất, rủi ro và tối ưu hóa nguồn vốn. Nhiều ngân hàng đã cắt giảm chi phí vận hành từ 30-40%, với tiềm năng lớn nằm ở việc thay đổi cách tư duy và thiết kế lại quy trình công việc để có thể tối ưu hóa năng suất. Đối với quản lý rủi ro, các ngân hàng đang tìm cách giảm thiểu nợ xấu trong khi cấp phép cho nhiều người hơn được tiếp cận những khoản vay bằng cách sử dụng trí tuệ nhân tạo để phân tích dữ liệu. Phân bổ vốn là một lĩnh vực khác các ngân hàng có thể tận dụng ngành phân tích dữ liệu để tối ưu hóa nhờ việc có thể thu thập và xử lý thông tin chính xác.

Để đạt được những cải thiện nhất định trong năng suất, các ngân hàng cần tận dụng tối đa các công cụ như số hóa, phân tích dữ liệu nâng cao, robot và trí tuệ nhân tạo. Các ngân hàng cũng có thể áp dụng những công cụ trên phục vụ cho mục đích phát triển chiến lược, tập trung vào 4 mảng chủ lực bao gồm: quản lý tài chính, vay tiêu dùng, vay doanh nghiệp vừa và nhỏ, và giao dịch ngân hàng. Tổng cộng, 4 lĩnh vực chủ lực này có tiềm năng để thúc đẩy doanh thu lên tới 100 tỷ USD cho các ngân hàng. 

Trong lĩnh vực quản lý tài sản, tạo ra sự cân bằng giữa cách sử dụng các công nghệ kỹ thuật số và dịch vụ tư vấn cao cấp là 1 nhiệm vụ tối quan trọng. Trong các phân khúc tài sản giá trị cao và siêu cao, cung cấp các dịch vụ danh mục đầu tư phù hợp từng nhu cầu của khách hàng là điều thiết yếu. Việc sử dụng phần mềm nhận diện giọng nói và trí tuệ nhân tạo sẽ giúp tạo ra sự cá nhân hóa cao trên quy mô lớn. Vay tiêu dùng và vay doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đang tăng trưởng mạnh. Cho vay bán lẻ ở Châu Á đạt 12,8 nghìn tỷ USD năm 2018 và dự kiến tăng trưởng 9% mỗi năm, đạt 23 nghìn tỷ USD năm 2025. Các ngân hàng có thể tận dụng sự tăng trưởng mạnh mẽ này làm nền tảng để phát triển các đề xuất giá trị mới và đa dạng hóa các nguồn doanh thu.

Trong thị trường cho vay tiêu dùng, các cơ quan quản lý ở một số quốc gia đang cảnh giác với sự gia tăng của mức nợ tiêu dùng, và khuyến cáo các ngân hàng nên sử dụng những mô hình rủi ro chi tiết để xác định những khách hàng đạt tiêu chuẩn trong các phân khúc mà mức thâm nhập sản phẩm thấp so với GDP. Tương tự, bằng việc kết hợp những dữ liệu truyền thống và phi truyền thống, những ngân hàng hàng đầu cùng với những tập đoàn fintech đã xây dựng thành công một hệ thống đo đạc rủi ro hoàn chỉnh để có thể thúc đẩy quá trình phê duyệt khoản vay cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, ngay cả với những doanh nghiệp không có lịch sử tín dụng. Ví dụ, chương trình ‘Milk for Money’ của HDFC ở Ấn Độ, ngân hàng theo dõi các khoản tiền gửi tại ATM thường xuyên để thiết lập hồ sơ tín dụng cho các nông dân chăn nuôi bò sữa, những người mới mở tài khoản được thời gian ngắn và hầu như không có lịch sử tín dụng. 

Cuối cùng, giao dịch ngân hàng, ngành mà hiện tại chiếm tới ⅓ tổng doanh thu của ngân hàng toàn Châu Á và một nửa doanh thu toàn cầu có tiềm năng để phát triển là rất lớn. Các ngân hàng có thể tăng doanh thu từ ngành ngân hàng giao dịch từ 10-20% thông qua 4 công cụ chủ yếu: quản lý tiền tệ, dịch vụ thương mại, chứng khoán và quản lý dòng tiền xuyên biên giới. Cạnh tranh trong ngành là rất cao, vì vậy các ngân hàng cần phải biết tận dụng sự chính xác của công nghệ phân tích dữ liệu để loại bỏ việc lãng phí tài nguyên, tạo ra sản phẩm mới và tạo dựng các mối quan hệ đối tác. Hiện tại, các ngân hàng lớn đã bắt đầu sử dụng API để tích hợp các tính năng ngân hàng vào trong hệ thống nội bộ, cho phép họ có một bảng điều khiển (dashboard) ví dụ như vị thế tiền mặt, khoản vốn lưu động, etc. Ngoài ra, các mô hình phân tích dữ liệu chi tiết đang giúp các tập đoàn tài chính nâng cao chất lượng dịch vụ quản lý thanh khoản của mình, cũng như nhiều dịch vụ khác.

Vai trò của quan hệ đối tác và việc sáp nhập

Trong thời đại của mã nguồn ngân hàng mở và các hệ sinh thái số, các ngân hàng ngày càng hiểu được tầm quan trọng của thiết lập các quan hệ đối tác nhằm mở rộng quy mô sản phẩm và tiếp cận tới nguồn khách hàng, cùng với nguồn dữ liệu mới từ bên đối tác. Ví dụ, 3 trên 4 ngân hàng lớn tại Úc – ANZ, NAB và Westpac đã đầu từ vào hệ thống Data Republic, một cổng thông tin bảo mật cao để các tập đoàn có thể lưu trữ, trao đổi và đóng góp dữ liệu cho các dự án của mình. 

Trong khi đó, ở Thái Lan, Ngân hàng thương mại Siam đã hợp tác cùng với Julius Baer để mở ra cơ hội đầu tư toàn cầu cho khách hàng; ở Indonesia, Ngân hàng Trung ương Châu Á (BCA) đã liên kết với các trang thương mại điện tử hàng đầu, cho phép ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh cho vay trong khi vẫn giữ chi phí rủi ro thấp.

Đối với các thương vụ sáp nhập, tiềm năng để mở rộng thị phần cùng với tiếp cận tới nguồn khách hàng mới là rất lớn đối với các ngân hàng. Ví dụ, ngân hàng DBS hiện tại đã thực hiện sáp nhập với ngân hàng ANZ tại 5 đất nước, trong khi ngân hàng Kotak mở rộng tệp khách hàng của mình bằng cách thâm nhập vào thị trường tài chính vi mô bằng cách mua lại công ty tài chính vi mô BSS Microfinance và mở rộng tầm ảnh hưởng của mình ở phía Nam Ấn Độ bằng cách mua lại ING Vysya. 90% giá trị của các thương vụ sáp nhập nằm ở 2 năm đầu của thương vụ, vì vậy các ngân hàng cần chuẩn bị sẵn một kế hoạch chi tiết để có thể tối ưu hóa giá trị của những thương vụ trên.

Đoạn kết

Thế giới đang thay đổi hằng ngày, đó vừa là thách thức cũng như cơ hội để thúc đẩy các ngân hàng làm mới chính mình để tránh bị tụt hậu. Để duy trì được vị thế hàng đầu của mình, những ngân hàng lớn cần phải hội tụ được nhiều yếu tố, trong đó bao gồm phát huy tối đa được khả năng phân tích dữ liệu chính xác, cùng với việc tăng năng suất làm việc quy mô lớn và áp dụng các mô hình chi tiết để tìm cách tăng trưởng doanh thu; tập trung vào 4 lĩnh vực chính bao gồm quản lý tài sản, vay tiêu dùng, vay doanh nghiệp vừa và nhỏ giao dịch ngân hàng. 

Ngoài ra, yếu tố cốt lõi nhất của việc thay đổi đó chính là một cơ hội để các ngân hàng có thể khẳng định lại giá trị cốt lõi, bằng cách định hướng lại tương lai phát triển của mình trong thời đại ngân hàng số.


Bài viết liên quan

ĐĂNG KÝ NHẬN BẢN TIN
TỪ BLOG CỦA CHÚNG TÔI

Luôn cập nhật những kiến thức và
tin tức mới nhất về Marketing và
Data Analysis


    Trả lời

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

    cMetric – A Social Listening Platform